Giờ chẳng ai còn nói mấy chuyện mùa màng. Ruộng đã thành khu giãn dân, khu công nghiệp. Người ta nói chuyện con cái, chuyện nhà nọ vừa xây, nhà kia vừa bán đất, tậu xe.
Nhưng hễ trong làng xảy ra một biến cố, hai từ cũ lại được nhắc đến: ĐẤT ĐỘC.
Cụ Lý ngồi bên ấm chè, đôi tay run run vê mấy sợi thuốc lào. Gần trọn một đời sống ở làng, cụ nghe đủ thứ chuyện. Chuyện theo khói thuốc mà tan cũng có. Chuyện tưởng chôn rồi, lâu lâu lại đội đất mà lên.
Làng Nọ vốn có tiếng là “làng hai vợ”.
Một, hai thế hệ trước, người ta nhẩm tính cứ ba người đàn ông thì có một người hai vợ, thậm chí có người nhiều hơn. Người bảo bởi chiến tranh, ly tán. Người lại bảo chẳng qua ông này nhìn ông kia rồi học nhau.
Nhưng chuyện khiến người ngoài nhớ đến làng Nọ không chỉ có thế.
Nhà có người mắc bệnh hiểm nghèo. Nhà có người dở dại. Nhà vướng tù tội, chơi bời, nợ nần. Nhà vợ chồng tan tác, anh em quay lưng.
Có những xóm chỉ vài chục nóc nhà mà đếm ra đến hàng chục nhà từng có người mất trẻ. Đầu bạc tiễn đầu xanh. Hết nhà này đến nhà khác.
Người làng lại thở dài: ĐẤT ĐỘC.
Các cụ già làng bên còn truyền rằng đất làng Nọ thường chỉ “chịu” một đầu đinh đứng chủ. Người ta gọi là “độc đinh”.
Một nền đất mà hai người cùng muốn đứng đầu, nhà ấy khó yên. Thế nào cũng phải có người đi xa, vướng vòng lao lý, ốm đau, tật nguyền, hoặc trong nhà xảy ra chuyện chẳng lành khác. Có người đi biền biệt nhiều năm, đến khi trở về mới yên cửa yên nhà.
Dân gian gọi những người đó là “gánh nghiệp gia tiên”.
Chẳng ai biết những lời ấy có từ khi nào.
Chỉ biết mỗi khi một nhà gặp chuyện, lời cũ lại được lôi ra. Cái tiếng “đất độc” cứ thế bám lấy làng Nọ như rêu bám những viên gạch bát sân đình.
Làng Nọ từng có tiếng là “làng cán bộ”.
Mấy đời liền, những vị trí quan trọng trong xã đều có người làng đảm nhiệm. Người già bảo ấy là phúc của tiền nhân để lại.
Sau đợt sáp nhập, không còn ai.
Có người buông lời:
- Vận làng Nọ đã hết.
Chuyện lại vòng về đình.
Đình làng Nọ vẫn còn. Nhưng vắng.
Mấy chục năm rồi làng không có hội. Ngày lễ tiết, chỉ có vài cụ trẻ ra quét dọn, sửa soạn hương hoa.
Các cụ cao niên, người biết việc làng, người thuộc văn tế, người nhớ từng hồi trống, tiếng chuông, lần lượt nằm xuống.
Nghi thức cứ ngắn dần. Người trước từng truyền. Người sau chẳng mấy ai học.
Trong cung cấm còn mấy chiếc hòm tôn cũ.
Bên trong là những tập giấy đã vàng quạch. Mép giấy bị mối gặm nham nhở. Chỗ còn chữ thì nhòe mực. Chỗ còn nguyên lại chẳng mấy ai biết đọc ra sao, dùng vào việc gì.
Người từng biết đều đã nằm dưới đất.
Chiếc hòm đóng lại.
Ngay đến dấu tích của vị Thành hoàng làng cũng mờ dần. Có một ngôi mộ mà người làng nhiều đời vẫn truyền là nơi an nghỉ của vị Thành hoàng có công với làng. Nhưng đến nay, ngôi mộ ấy vẫn chưa được chính thức công nhận rõ ràng. Rêu phủ kín chân.
Ngày sóc vọng, người biết thì ghé thắp nén hương. Người không biết đi ngang tưởng đó chỉ là cây hương thờ ông Đống ngoài trời.
Mưa dội. Nắng hun. Mùa này sang mùa khác. Rêu ăn gạch.
Người ta lại nhắc chuyện làng Nọ mất mạch.
Làng Nọ bây giờ giàu hơn xưa. Những mái nhà thấp đã ít dần. Nhà tầng mọc lên, cổng lớn hơn, tường cao hơn. Người trẻ đi học, đi làm xa. Con cháu sinh ra ở thành phố, một năm về quê đôi ba lần.
Nhà đẹp lên. Cổng cũng kín hơn. Có người cùng một ngõ nhiều năm chưa một lần bước chân vào nhà nhau.
Có đứa trẻ gặp người lớn ngoài đường, ngẩng lên nhìn, không biết là ai, rồi cứ thế đi qua.
Chiều xuống. Gió heo may vẫn luồn qua bụi tre già cuối làng, rít lên từng hồi mỏng tang như tiếng ai vọng về từ ngoài cánh đồng.
Quán cụ Lý còn mấy người ngồi đánh cờ. Một quân cờ đặt xuống, “cạch”.
Cụ Lý nâng chén chè đã nguội, nhìn về phía mái đình đang chìm dần sau bóng cây. Cụ nhấp một ngụm. Chè đã nguội. Vị chát vẫn còn.